Mô tả
BỘ TÀI LIỆU GIÁO ÁN CHUYÊN ĐỀ DẠY THÊM VĂN 10 KNTT CẢ NĂM FILE WORD là bộ giáo án tham khảo biên soạn sát với chương trình học sách giáo khoa mới theo đúng các Văn bản qui định hiện hành của Bộ Giáo dục và Đào tạo bởi các thầy cô giáo có chuyên môn có kinh nghiệm giảng dạy nhiều năm và được kiểm duyệt chất lượng kỹ trước khi lưu hành.
A- CÁC DẠNG VĂN BẢN ,YÊU CẦU CẦN ĐẠT CỦA TỪNG DẠNG TRONG CHƯƠNG TRÌNH 2018
I. Các dạng văn bản
- Văn bản văn học (truyện, thơ, kịch…)
- Văn bản nghị luận
- Văn bản thông tin
II. Yêu cầu cụ thể
- Văn bản văn học
- Đọc hiểu nội dung
- Biết nhận xét nội dung bao quát của văn bản; biết phân tích các chi tiết tiêu biểu, đề tài, câu chuyện, nhân vật và mối quan hệ của chúng trong tính chỉnh thể của tác phẩm.
- Phân tích và đánh giá được chủ đề, tư tưởng, thông điệp mà văn bản muốn gửi đến người đọc thông qua hình thức nghệ thuật của văn bản; phân tích được một số căn cứ để xác định chủ đề.
- Phân tích và đánh giá được tình cảm, cảm xúc, cảm hứng chủ đạo mà người viết thể hiện qua văn bản. Phát hiện được các giá trị đạo đức, văn hoá từ văn bản.
- Đọc hiểu hình thức
- Nhận biết và phân tích được một số yếu tố của sử thi, truyện thần thoại như: không gian, thời gian, cốt truyện, nhân vật, lời người kể chuyện và lời nhân vật,…
- Nhận biết và phân tích được một số yếu tố của truyện như: nhân vật, câu chuyện, người kể chuyện ngôi thứ 3 ( người kể chuyện toàn tri) và người kể chuyện ngôi thứ nhất (người kể chuyện hạn tri) điểm nhìn, lời người kể chuyện, lời nhân vật,…
- Phân tích và đánh giá được giá trị thẩm mĩ của một số yếu tố trong thơ như từ ngữ, hình ảnh, vần, nhịp, đối, chủ thể trữ tình, nhân vật trữ tình.
- Nhận biết và phân tích được một số yếu tố của văn bản chèo hoặc tuồng như: đề tài, tính vô danh, tích truyện, nhân vật, lời thoại, phương thức lưu truyền,…
- Liên hệ, so sánh, kết nối
- Vận dụng được những hiểu biết về tác giả Nguyễn Trãi để đọc hiểu một số tác phẩm của tác giả này.
- Nhận biết và phân tích được bối cảnh lịch sử – văn hoá được thể hiện trong văn bản văn học.
- Liên hệ để thấy được một số điểm gần gũi về nội dung giữa các tác phẩm văn học thuộc hai nền văn hoá khác
- Nêu được ý nghĩa hay tác động của tác phẩm văn học đối với quan niệm, cách nhìn, cách nghĩ và tình cảm của người đọc; thể hiện được cảm xúc và sự đánh giá của cá nhân về tác phẩm.
- Đọc mở rộng
- Trong 1 năm học, đọc tối thiểu 35 văn bản văn học (bao gồm cả văn bản được hướng dẫn đọc trên mạng Internet) có thể loại và độ dài tương đương với các văn bản đã học.
- Học thuộc lòng một số đoạn thơ, bài thơ yêu thích trong chương trình.
- Đọc hiểu nội dung
2. Văn bản nghị luận
- Đọc hiểu nội dung
- Nhận biết và phân tích được nội dung của luận đề, luận điểm, lí lẽ và bằng chứng tiêu biểu trong văn bản.
- Xác định được ý nghĩa của văn bản. Phân tích được mối quan hệ giữa các luận điểm, lí lẽ và bằng chứng; vai trò của các luận điểm, lí lẽ và bằng chứng trong việc thể hiện nội dung chính của văn bản.
- Dựa vào các luận điểm, lí lẽ và bằng chứng trong văn bản để nhận biết được mục đích, quan điểm của người viết.
- Đọc hiểu hình thức
- Nhận biết và phân tích được cách sắp xếp, trình bày luận điểm, lí lẽ và bằng chứng của tác giả.
- Nhận biết và phân tích được vai trò của các yếu tố biểu cảm trong văn bản nghị luận.
- Liên hệ, so sánh, kết nối
Nhận biết và phân tích được bối cảnh lịch sử hoặc bối cảnh văn hoá, xã hội – Nêu được ý nghĩa hay tác động của văn bản đối với quan niệm sống của bản thân.
- Đọc mở rộng
Trong 1 năm học, đọc tối thiểu 9 văn bản nghị luận (bao gồm cả văn bản được hướng dẫn đọc trên mạng Internet) có độ dài tương đương với các văn bản đã học.
3. Văn bản thông tin
- Đọc hiểu nội dung
- Biết suy luận và phân tích mối liên hệ giữa các chi tiết và vai trò của chúng trong việc thể hiện thông tin chính của văn bản.
- Phân tích và đánh giá được đề tài, thông tin cơ bản của văn bản, cách đặt nhan đề của tác giả; nhận biết được mục đích của người viết.
- Đọc hiểu hình thức
- Nhận biết được một số dạng văn bản thông tin tổng hợp: thuyết minh có lồng ghép một hay nhiều yếu tố như miêu tả, tự sự, biểu cảm, nghị luận; giải thích được mục đích của việc lồng ghép các yếu tố đó vào văn bản.
- Nhận biết và phân tích được sự kết hợp giữa phương tiện giao tiếp ngôn ngữ và các phương tiện giao tiếp phi ngôn ngữ để biểu đạt nội dung văn bản một cách sinh động, hiệu quả.
- Phân tích, đánh giá được cách đưa tin và quan điểm của người viết ở một bản
- Liên hệ, so sánh, kết nối
| Nêu được ý nghĩa hay tác động của văn bản thông tin đã đọc đối với bản thân.
3.4. Đọc mở rộng Trong 1 năm học, đọc tối thiểu 18 văn bản thông tin (bao gồm cả văn bản được hướng dẫn đọc trên mạng Internet) có kiểu văn bản và độ dài tương đương với các văn bản đã học. |
B – NỘI DUNG ÔN TẬP
|
PHẦN 1. ĐỌC HIỂU VĂN BẢN TỰ SỰ THỂ LOẠI THẦN THOẠI – SỬ THI
I. KIẾN THỨC NGỮ VĂN |
1. THẦN THOẠI :
- Khái niệm : – Thể loại tự sự dân gian, ra đời sớm nhất trong lịch sử truyện kể dân gian. Đó là những truyện có nội dung hoang đường, tưởng tượng về các vị thần, những nhân vật sáng tạo thế giới…phản ánh nhận thức, cách lí giải của con người thời nguyên thủy về các hiện tượng tự nhiên và xã hội
- Không gian : Không gian vũ trụ nguyên sơ với nhiều cõi khác nhau: cõi trời, cõi đất, cõi nước. ba cõi này biến chuyển, liên thông với nhau.
- Thời gian : Là thời gian của quá khứ thời nguyên thủy, không được xác định cụ thể Thời gian phiếm chỉ, mang tính ước lệ, thường diễn ra theo trình tự vốn có.
- Nhân vật : Các vị thần có ngoại hình và hành động phi thường, có khả năng biến hóa khôn lường. Họ đều có công tạo lập thế giới, có hình hài kỳ dị đặc biệt.
- Cốt truyện : Cốt truyện xoay quanh lí giải các hiện tượng tự nhiên và xã hội, sự hình thành thế giới. Thường có cốt truyện đơn giản: có thể là cốt truyện đơn tuyến, tập trung vào một nhân vật hoặc là một tổ hợp nhiều cốt truyện đơn (tạo thành một “hệ thần thoại”).
- Người kể chuyện, lời kể chuyện : Người kể chuyện thường ở ngôi thứ 3, là tác giả dân gian (người kể chuyện toàn tri) . Lời kể thần thoại: hồn nhiên, chất phác, bay bổng, lãng mạn.
- Giá trị tác phẩm : – Thần thoại cắt nghĩa, lí giải các hiện tượng tự nhiên và đời sống xã hội, thể hiện niềm tin của con người cổ sơ cũng như những khát vọng tinh thần có ý nghĩa lâu dài của nhân loại. Ra đời trong “tuổi ấu thơ” của loài người nên thần thoại mang tính nguyên hợp: chứa đựng các yếu tố nghệ thuật, tôn giáo, triết học, lịch sử, … Vì vậy, thần thoại có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc lưu giữ di sản văn hoá nguyên thuỷ của cộng đồng.
2. SỬ THI
- Khái niệm : – Còn gọi là anh hùng Là tác phẩm tự sự dân gian có quy mô lớn, bằng văn vần hoặc văn xuôi kết hợp với văn vần, xây dựng những hình tượng hào hùng, kì vĩ để kể về những người anh hùng, những sự kiên lớn có ý nghĩa trọng đại với dân tộc, diễn ra trong đời sống cộng đồng của cư dân thời cổ đại.
- Không gian : Không gian cộng đồng, bao gồm không gian thiên nhiên, không gian xã hội
- Thời gian : Là thời gian quá khứ thời cổ đại, gắn liền với lịch sử cộng đồng của một dân tộc, bộ lạc, chế độ.
- Nhân vật : Người anh hùng hội tụ nhiều vẻ đẹp, tiêu biểu cho sức mạnh thể chất và trí tuệ, có phẩm chất tốt đẹp, luôn xả thân vì cộng đồng trong chiến đấu chống kẻ thù và chinh phục tự nhiên.
- Cốt truyện : Cốt truyện sử thi xoay quanh những biến cố trọng đại liên quan đến vận mệnh của toàn thể cộng đồng như chiến tranh hay công cuộc chinh phục thiên nhiên để ổn định và mở rộng địa bàn cư trú. Kể về những chiến công của những người anh hùng bộ tộc.
- Người kể chuyện, lời kể chuyện : Người kể chuyện thường ở ngôi thứ 3, là tác giả dân gian (người kể chuyện toàn tri). Lời kể trong sử thi thành kính, trang trọng; nhịp điệu châm rãi; trần thuật tỉ mỉ, lặp đi lặp lại
những từ ngữ khắc họa đặc điểm cố định của nhân vật, sự vật, thường xuyên sử dụng thủ pháp so sánh trùng điệp. Lời người kể chuyện và cả lời nhân vật nhiều khi mang tính khoa trương, cường điệu.
- Giá trị tác phẩm : Sử thi không chỉ lưu dấu những biến cố quan trọng trong lịch sử của một cộng đồng, mà còn phản ánh diện mạo đời sống tinh thần, hệ giá trị, niềm tin của cộng đồng ấy. Nhiều chủ đề trong sử thi vẫn có ý nghĩa lớn đối với nhân loại. Những tác phẩm sử thi như Ma-ha-bha-ra-ta, Ra-ma-ya-na (Ấn Độ); I-li-át, Ô-đi-xê (Hy Lạp); Đăm Săn (Việt Nam); … vẫn tiếp tục khơi nguồn cảm hứng cho nhiều sáng tạo thuộc nhiều loại hình nghệ thuật đời sau.
II. HỆ THỐNG CÁC TÁC PHẨM Ở BA BỘ SÁCH
- CÁNH DIỀU :
a. Thần thoại :
- Thần Trụ trời
- Hê-ra-clét đi tìm táo vàng
- Nữ Oa
b. Sử thi :
- Ra – ma buộc tội
- Chiến thắng Mtao Mxây
2. KẾT NỐI TRI THỨC :
a. Thần thoại :
- Truyện về các vị thần sáng tạo thế giới: Thần Sét, Thần Gió, Thần Trụ trời
- Tê – dê
b. Sử thi :
– Héc-to từ biệt Ăng-đrô-mác
– Đăm Săn đi bắt Nữ Thần Mặt Trời
3. CHÂN TRỜI SÁNG TẠO :
a. Thần thoại :
- Thần Trụ trời
- Prô-mê-tê và loài người
- Đi san mặt đất
- Cuộc tu bổ lại các giống vật
b. Sử thi :
– Gặp Ka-ríp và Xi-la
– Đăm Săn chiến thắng Mtao Mxây
|
III. TÌM HIỂU CHI TIẾT CÁC TÁC PHẨM 1. Thần Trụ Trời : – Xuất xứ : Thần thoại suy nguyên Việt Nam – Không gian : Trời và đất, vũ trụ đang trong quá trình tạo lập, không xác định nơi chốn cụ thể: “Trời đất chỉ là một đám hỗn độn tối tăm và lạnh lẽo.” – Thời gian : Cổ sơ, không xác định: “Thủa ấy chưa có vũ trụ, chưa có muôn vật và loài người”. – Cốt truyện : Kể về quá trình kiến tạo thế giới của Thần Trụ Trời: tự đào đất, đập đá, đắp thành một cái cột |
-Đăm Săn đi chinh phục nữ thần Mặt Trời
vừa cao, vừa to để chống trời. Thần hì hục đào, đắp, cột đá cao lên đẩy vòm trời lên mãi mây xanh. Khi trời cao và khô, thần phá cột, lấy đất đá ném tung đi khắp nơi à tạo ra hòn núi, hòn đảo, gò, đống, những dải đồi cao là mặt đất ngày nay thường không bằng phẳng.
- Nhân vật : Các vị thần có hình dáng khổng lồ và làm những việc phi thường , như Thần Trụ Trời có năng lực phi thường, ý chí , mạnh mẽ và tài năng , có công tạo ra đất trời , thần làm sao, thần đào sông, thần tát biển, thần nghiền cát, nghiền sỏi, thần trồng cây,…
- Yếu tố thần kì : Thần có thân thể to lớn không biết bao nhiêu mà kể, chân thần bước một bước cứ như từ đỉnh núi này sang đỉnh núi kia , thần dùng đầu đội trời lên, đắp cột chống trời , mỗi hòn đá văng ra thành một hòn núi hay một hòn đảo, chỗ đào lên là biển cả…
– Giá trị nội dung – nghệ thuật :
+ Nghệ thuật kể chuyện với cốt truyện đơn giản, chi tiết kì ảo, hoang đường, giọng trần thuật đầy ngưỡng mộ, thiêng liêng.
+ Nội dung: qua việc lí giải sự hình thành và kiến tạo trái đất, muôn loài, tác giả dân gian thể hiện thái độ ngưỡng mộ những thế lực thần bí, khát vọng chinh phục tự nhiên, khám phá thế giới của con người xưa.
| – Xuất xứ : Thần thoại Hy Lạp .
– Không gian : Vũ trụ nguyên sơ nơi cõi trời và cõi đất, biển, sông tương thông tạo nên thế giới mênh mông kì vĩ và chi tiết, cụ thể, phong phú: từ không gian bầu trời, mặt đất, biển khơi, đến không gian sinh sống của các vị thần… – Thời gian : Cổ sơ, không xác định: “Thủa ấy chưa có vũ trụ, chưa có muôn vật và loài người”. – Cốt truyện : Phần 1: Kể về nguồn gốc và điểm đặc biệt của cây táo. Phần 2: Cuộc chiến đấu giữa Hê-ra-clét và Ăng-tê. Phần 3: Giải cứu thần Prô-mê-tê. Phần 4: Hê-ra-clét tìm gặp thần Át-lát, gánh giúp bầu trời cho thần đi lấy táo, và cuộc đấu trí với thần để dành được táo → Cốt truyện li kì, hấp dẫn theo hành trình đi tìm táo vàng, môtip người anh hùng vượt qua thử thách. |
- Hê-ra-clét đi tìm táo vàng :
– Nhân vật : Đều là những vị thần có khả năng siêu phàm, hoặc á thần:
+ Hê-ra-clet là á thần (Con người mang phẩm chất thần linh)
+ Gã khổng lồ Ăng-tê
+ Tiên nữ Nanh-phơ.
+ Con rồng La-đông.
+ Thần Đất Mẹ Gai-a.
+ Thần Át-lát
+ Thần Prô-mê-tê.
– Yếu tố thần kì :
+ Những nhân vật hoang đường: Thần đất, rồng trăm đầu, thần chiến tranh, thần biển, gã khổng lồ Ăng-tê, thần Prô-mê-tê, thần Át-lát…
+ Những chi tiết hoang đường: Gã khổng lồ Ăng-tê mỗi lần ngã xuống đất được thần đất tiếp thêm cho sức mạnh, lá gan của thần Prô-mê-tê bị chim moi lại mọc lại được, Thần Át-lát có thể đỡ cả bầu trời , Hê-ra-clét cũng có thể đỡ được bầu trời như thần Át-lát..
– Giá trị nội dung – nghệ thuật :
+ Nghệ thuật kể chuyện với cốt truyện hấp dẫn, chi tiết kì ảo, hoang đường tạo ra thế giới nghệ thuật riêng vô cùng hấp dẫn, thú vị, giọng trần thuật đầy ngưỡng mộ, thiêng liêng.
+ Nội dung: đoạn trích phản ánh nhận thức và cách lí giải của người cổ đại về những ước mơ, khát vọng hướng đến những điều bí ẩn kì diệu của cuộc đời. Đồng thời đoạn trích cũng bộc lộ quan niệm về người anh
hùng xưa (trí dũng vô song nhưng có lòng trắc ẩn) thể hiện niềm tin, niềm tự hào của người xưa về sức mạnh của con người, về khả năng chinh phục tự nhiên, khả năng khám phá thế giới.
- Truyện về các vị thần sáng tạo thế giới :
- Xuất xứ : Thần thoại suy nguyên Việt Nam (Thần thoại kể về nguồn gốc vũ trụ và muôn loài)
- Không gian : Vũ trụ nguyên sơ nơi cõi trời và cõi đất, biển, sông tương thông tạo nên thế giới mênh mông nhưng không cụ thể, được miêu tả giản lược.
| – Cốt truyện :
Văn bản kể về ba vị thần: thần Trụ Trời, thần Sét, thần Gió. Mỗi vị thần mang những đặc điểm hình dáng, |
- Thời gian : Thời kì hỗn mang, không xác định
tính cách và có những nhiệm vụ khác nhau.
+ Thần Trụ Trời : xây cột chống đỡ bầu trời, tạo không gian sống lí tưởng cho con người.
+ Thần Sét: tạo ra sấm sét, chuyên một việc thi hành luật pháp ở trần gian.
+ Thần Gió: làm gió nhỏ hay bão lớn, lâu hay mau tuỳ theo lệnh Ngọc Hoàng.
→ Nhằm cai quản thế giới tự nhiên của con người. Từ đó phản ánh suy nghĩ và mơ ước của con người về cuộc sống tự nhiên xung quanh mình.
- Nhân vật : Những vị thần sáng thế có quyền uy và năng lực phi thường nhưng vẫn mắc những sai lầm như con người:
+ Thần Trụ Trời thân thể to lớn không biết bao nhiêu mà kể, chân thần bước một bước từ đỉnh núi này sang đỉnh núi khác.
+ Thần Sét có mặt mũi rất nanh ác, tiếng quát tháo rất dữ dội, luôn mang theo một lưỡi búa. Tính thần Sét rất nóng nảy, hễ Ngọc Hoàng sai là đi ngay, hễ thấy là đánh liền, cho nên cũng có lúc làm cho người, vật chết oan. Thần Sét có tật thích ngủ đông.
+ Thần Gió có một hình dạng kì quặc: thần không có đầu. Bảo bối của thần là một thứ quạt màu nhiệm, thần sẽ làm gió nhỏ hay bão lớn, lâu hay mau tùy theo lệnh Ngọc Hoàng. Thần có một đứa con rât nghịch ngợm, từng lấy quạt của bố quạt lung tung.
→ nhân vật thần linh hiện lên vừa thiêng liêng vừa gần gũi với con người.
– Yếu tố thần kì :
+ Thần Trụ Trời có thân thể to lớn không biết bao nhiêu mà kể, chân thần bước một bước cứ như từ đỉnh núi này sang đỉnh núi kia ,dùng đầu đội trời lên, đắp cột chống trời, mỗi hòn đá văng ra thành một hòn núi hay một hòn đảo, chỗ đào lên là biển cả…
+ Thần Sét tạo ra sét
+ Thần Gió không có đầu, làm ra gió bão.
– Giá trị nội dung – nghệ thuật :
+ Nghệ thuật kể chuyện với cốt truyện đơn giản, xây dựng nhân vật các vị thần sử dụng thủ pháp nhân hóa, phóng đại,các chi tiết kì ảo, hoang đường tạo ra thế giới nghệ thuật riêng vô cùng hấp dẫn, thú vị, giọng trần thuật mạch lạc, dễ hiểu, ngôn từ thuần Việt.
+ Nội dung: Truyện phản ánh quan niệm vạn vật có linh hồn của con người nguyên thủy,bộc lộ nhận thức và cách lí giải hồn nhiên, chất phác về thế giới và các hiện tượng tự nhiên của người cổ xưa. Đồng thời thể hiện cái nhìn thiên nhiên khá tỉnh táo: thiên nhiên đáng tôn thờ, thiên nhiên có sức mạnh lớn lao nhưng con người cũng không sùng bái đến mức mù quáng mà phải vừa dựa vào thiên nhiên, vưà cải tạo thiên nhiên phục vụ cuộc sống của con người.
- Tê – dê :
- Xuất xứ : Thần thoại Hy Lạp.
- Không gian : Một thành phố phía Nam Hy Lạp, thành A-ten, trên đường về A-
- Thời gian : Thời Cổ đại, gắn với cuộc đời của Tê – dê ( khi Tê – dê còn nhỏ, khi Tê – dê đã lớn, thành A – ten nhiều năm về trước, thành Cơ – rét, khi Tê – dê trở thành vua) .
– Cốt truyện :
Các sự kiện chính:
+ Tê-đê được sinh ra và bắt đầu hành trình đi tìm cha.
+ Tê-đê đã quét sạch mọi đầu mối đau khổ cho khách bộ hành và trở thành người anh hùng khi tới A-ten
+ Tê-đê trở thành người kế vị thành A-ten
+ Tê-đê tự nguyện trở thành một trong những nạn nhân đến Mê cung chiến đấu với con bò Mi-nô-tơ.
+ Tê-đê được cô gái A-ri-an giúp đỡ, thành công giết chết con bò và trốn khỏi Mê Cung
+ A-ri-an mất trên đường trở về, Tê-đê vì quá đau khổ mà quên căng cánh buồm trắng
+ Vua Ê-giê trông thấy cánh buồm đen biết con mình đã chết liền gieo mình từ mỏm đá cao xuống biển
+ Tê-đê trở thành vua xứ A-ten, xây dụng một thành phố hạnh phúc và thịnh vượng nhất trên Trái Đất.
- Nhân vật : những con người có sức mạnh phi thường, có trí tuệ, bản lĩnh và lòng dũng cảm, có thể trừ nạn cho dân, đem đến cho dân một cuộc sống hạnh phúc, thịnh vượng.
Phẩm chất của Tê-đê:
+ Bản lĩnh, dũng cảm: muốn chứng tỏ sức mạnh, không thích những gì quá an toàn và nhàn nhã, dám chiến đấu với con bò Mi-nô-tơ
+ Trí tuệ: Tê-dê từ bỏ vương quyền và tổ chức một khối cộng đồng, lập một hội trường lớn để các công dân hội họp và biểu quyết.
+ Thuỷ chung: Tê-đê cùng A-ri-an bỏ trốn sau khi thoát khỏi mê cung và chàng đã vô cùng đau khổ trước cái chết của nàng.
– Yếu tố thần kì :
+ Tiêu diệt sạch bọn cướp trên đường đến A-ten
+Quái vật Mi-nô-tơ (một nửa bò mộng, một nửa người) ăn thịt các nam nữ thanh niên hiến tế.
+ Tê-dê giết quái vật Mi-nô tơ bằng hai bàn tay không.
+ Thần rượu Đi-ô-ni-đô-xơ giúp chữa lành nỗi đau cho nàng A-ri-an.
– Giá trị nội dung – nghệ thuật :
+ Nghệ thuật kể chuyện với cốt truyện xây dựng nhân vật vị thần Tê dê vừa mang vẻ đẹp phi thường của một vị thần qua các chi tiết kì ảo, hoang đường, vừa mang vẻ đẹp đời thường, bình dị.
+ Nội dung: Ngợi ca vẻ đẹp của người anh hùng Tê-dê đã vượt qua nhiều khó khăn thử thách bằng bản lĩnh và trí tuệ để khẳng định bản thân. Chàng là một người anh hùng, dũng cảm, không chấp nhận cuộc sống an nhàn, tẻ nhạt, luôn có khát vọng đấu tranhc hống cái ác, trừ hại cho nhân dân. Qua đó, thể hiện khát vọng chinh phục tự nhiên và tư duy duy của người Hy Lạp cổ đại về các vị thần và gửi gắm những thông điệp ý nghĩa về tình cha con, sự thủy chung trong tình yêu.
- Prô-mê-tê và loài người :
- Xuất xứ : Thần thoại Hy Lạp.
- Không gian : “Thủa ấy”: thời gian quá khứ mơ hồ, không xác định .
| – Cốt truyện :
Giải thích nguyên nhân tạo ra loài người: cuộc sống thế gian tẻ nhạt và buồn,Prô-mê-tê và Ê-pi-mê-tê xin phép U-ra-nôx tạo cho thế gian một cuộc sống đông vui hơn. * Thần Ê-pi-mê-tê: |
- Thời gian : Thế giới cõi trời, cõi đất. không gian vũ trụ, không cụ thể “thế gian”.
| + Lấy đất và nước nhào nặn ra các loài vật và ban cho chúng một đặc ân của thần, một “vũ khí” để phòng thân, hộ mệnh, bảo vệ được cuộc sống của giống loài mình.
* Thần Prô-mê-tê: + Dựa theo thân hình trang nhã của các vị thần tái tạo lại thân hình cho con người gọn gàng, đứng thẳng. + Tạo ra ngọn lửa để giúp loài người sinh sống và phát triển. – Nhân vật : Họ có sức mạnh và khả năng kì lạ: 🔥 GỢI Ý THÊM MỘT SỐ TÀI LIỆU CÙNG CHUYÊN ĐỀ MÀ QUÝ THẦY CÔ CÓ THỂ QUAN TÂM VÀ THAM KHẢO THÊM: + Thần Ê-pi-mê-tê có khả năng tạo ra “vũ khí” để giúp cho các con vật có những sức mạnh riêng của mình (con thì được ban cho sức chạy nhanh, con được ban cho đôi mắt sáng, con có sức khỏe, …); Thần Prô-mê-tê ban cho người lửa. |
+ Họ dùng chính sức mạnh của mình để giúp đỡ chúng sinh: Thần Ê-pi-mê-tê ban cho các con vật những “vũ khí”, đặc ân riêng để sống được ở thế gian; Thần Prô-mê-tê giúp con người có hình hài thanh tao hơn, giúp con người đứng thẳng, đi lại bằng hai chân và tay để làm việc, đặc biệt ban cho “vũ khí” lửa để giúp cuộc sống họ trở nên tươi sáng, tốt đẹp hơn.
– Yếu tố thần kì :
Hai vị thần tạo ra muôn vật và loài người :
+ Lấy đất và nước nhào nặn ra các loài vật và ban cho chúng một đặc ân của thần
+ Tái tạo lại thân hình cho con người gọn gàng, đứng thẳng.
- Lấy lửa của thần Mặt Trời châm vào ngọn đuốc đem xuống cho loài người.
– Giá trị nội dung – nghệ thuật :
+ Nghệ thuật: Cách xây dựng cốt truyện và nhân vật trong Prô-mê-tê và loài người: ngắn gọn, cụ thể, tập trung vào việc nêu lên quá trình tạo nên con người và thế giới muôn loài của hai vị thần
+ Nội dung: lí giải nguồn gốc và sự hình thành con người và thế giới muôn loài. Đồng thời, ca ngợi công lao to lớn của hai vị thần Prô-mê-tê và Ê-pi-mê-tê đã cho thế giới muôn loài có những đặc ân, “vũ khí” riêng và giúp cuộc sống trở nên tươi sáng và tốt đẹp, muôn màu hơn.Từ đó, làm nổi bật hình ảnh vĩ đại và công lao to lớn của hai vị thần. Đồng thời cũng truyền đạt thông điệp: Mỗi loài đều có những đặc tính, đặc điểm riêng, “vũ khí” riêng, sức mạnh hay tập tính cũng khác nhau nhằm mục đích tự sinh tồn và bảo vệ cuộc sống riêng của chính mình trong vũ trụ rộng lớn.
- Đi san mặt đất :
| – Xuất xứ : Thần thoại của người Lô Lô Việt Nam .
– Không gian : Thời gian cổ xưa, không xác định: “ngày xưa từ rất xưa/ Người già không nhớ nổi/Mấy trăm, mấy nghìn năm”. |
– Thời gian :
| + “Bầu trời nhìn chưa phẳng”.
+ “Mặt đất còn nhấp nhô”. – Cốt truyện : |
Không gian mở ra là không gian lúc ban đầu của vũ trụ hoang sơ, đất chưa được san bằng:
Cốt truyện nói về quá trình chinh phục, cải tạo tự nhiên và nêu đặc điểm của một số loài động vật
+ Phần 1. Cuộc sống ban sơ của loài người (“Ngày xưa từ rất xưa…Cùng ở và cùng đi)
+ Phần 2. Hành trình đi kêu gọi các giống loài cùng san bầu trời, san mặt đất của loài người (“Bầu trời nhìn chưa phẳng…Xin trời đổ nước xuống”)
+ Phần 3. Công cuộc san mặt đất của con người (Còn lại)
– Nhân vật :
+ Con người với công việc “san mặt đất” được coi là công việc mới mẻ, có tính chất mở đường, chứa đựng nhiều gian khổ, hiểm nguy, cần sự chung sức đồng lòng và ý chí quyết tâm cao, có khát vọng lớn lao. Con người có tầm nhìn xa trông rộng, chủ động và quyết đoán.
+ Các giống vật (trâu, ếch, cóc, chuột chũi…) ẩn dụ cho những con người an phận, sống tùy thời, cốt sao yên ổn là được, không cần phải suy nghĩ đến điều quá xa, quá lớn mà họ cho rằng quá viển vông. “Suốt ngày trong lòng đất/Tôi có thấy trời đâu?”. Họ trông chờ, ỉ lại vào sự giúp đỡ từ bên ngoài mà không muốn tự mình phấn đấu
– Yếu tố thần kì :
Câu chuyện không xuất hiện thần linh với sức mạnh siêu nhiên mà chỉ thấy con người với nỗ lực kì vĩ muốn đi san mặt đất. Trong tác phẩm, con người và các loài vật có thể trò chuyện, trao đổi với nhau.
– Giá trị nội dung – nghệ thuật :
+ Nghệ thuật: Thể thơ năm chữ, hình ảnh nhân hóa, từ ngữ gần gũi, dễ hiểu, hình ảnh mộc mạc, giản dị, có sử dụng những yếu tố kì ảo hoang đường tạo nên thế giới nghệ thuật có sự giao hòa giữa người và vật vô cùng lí thú.
+ Nội dung: lí giải một cách thô sơ, hồn nhiên về sự hình thành thế giới tự nhiên, về đặc điểm loài vật. Đồng thời, ca ngợi công lao to lớn của con người trong việc cải tạo, chinh phục tự nhiên, khẳng định truyền thống, văn hóa trồng lúa nước lâu đời của dân tộc Việt Nam.
| Không gian cõi trời, cõi núi. Không có địa điểm cụ thể, rõ ràng. |
| – Xuất xứ : Thần thoại sáng tạo Việt Nam .
– Không gian : |
- Cuộc tu bổ lại các giống vật :
– Thời gian :
| Thời gian cổ xưa, thủa mới hình thành sự sống, trước khi Ngọc hoàng tạo ra vạn vật
– Cốt truyện : |
+ Ngọc Hoàng sáng tạo ra vạn vật nhưng một số loài có cấu tạo chưa hoàn chỉnh (Giống Prô-me-tê và loài người)
+ Quá trình tu bổ và hoàn thiện các giống vật: Dùng chân ghế, chân nhang (những vật gần gũi) dùng để hoàn thiện bộ phận cho vật. (Prô-me-tê dùng đất nặn ra con người)
| – Nhân vật :
+ Ngọc Hoàng là nhân vật chính. Dù là người đứng đầu và có quyền năng nhưng làm việc khá hấp tấp và không cẩn thận: Làm nhiều loại động vật như vịt, chó, chiền chiện đều thiếu mất bộ phận cần thiết. + Ba vị Thiên thần thì làm việc rất có trách nhiệm. Họ cố gắng lấy cả chân ghế, chân hương để giúp đỡ những con vật bị thiếu bộ phận. |
+ Lí giải đặc điểm của các giống vật một cách hài hước, hồn nhiên.
=> Vị thần có sức mạnh và sức mạnh vô thường.
– Yếu tố thần kì :
+ Nhân vật Ngọc Hoàng (thần linh có phép thuật siêu phàm nhưng cũng có những sai sót rất con người).
+ Việc làm phi thường của Ngọc Hoàng: tạo ra giống vật và tu bổ, hoàn thiện chúng.
+ Các chất liệu làm nên bộ phận của các con vật
– Giá trị nội dung – nghệ thuật :
+ Nghệ thuật: Truyện có cốt truyện đơn giản, gần gũi với đời sống co người Việt Nam bởi nội dung xoay quanh các con vật thường thấy trong cuộc sống như vịt, chó,… Hình ảnh nhân hóa, từ ngữ gần gũi, vui tươi,
hóm hỉnh, có sử dụng những yếu tố kì ảo hoang đường tạo nên thế giới nghệ thuật có sự giao hòa giữa người và vật vô cùng lí thú.
+ Nội dung: lí giải một cách thô sơ, hồn nhiên về sự hình thành thế giới tự nhiên, về đặc điểm loài vật. Đồng thời, thể hiện sự ngưỡng mộ các đấng siêu nhiên đã tạo ra muôn loài.
- Ra – ma buộc tội :
| – Xuất xứ : Sử thi Ấn Độ .
– Không gian : |
Không gian cộng đồng, thời xuất hiện các triều đại .
– Thời gian :
| – Cốt truyện :
Văn bản kể lại những chi tiết sau khi chiến thắng quỷ vương Ra-va-na, cứu Xi-ta, nhưng vì danh dự và lòng |
Thời kì cổ đại Ấn Độ.
ghen tuông, Ra-ma đã nghi ngờ sự trong sạch của Xita và tuyên bố ruồng bỏ nàng. Xi-ta đã bảo vệ danh dự bằng cách nhảy vào giàn hoả (theo cách tự thanh minh của người Ấn Độ cổ).
– Nhân vật : Ra-ma:
Người anh hùng, đức vua cao quý:
+ Khi đứng trước cộng đồng: khẳng định chiến thắng và tài nghệ của mình; Tuyên dương công trạng những người đã giúp đỡ mình.
→ Lời lẽ rành mạch, tự hào. Thể hiện tính công khai của sử thi.
- là con người với những xúc cảm đời thường, có ghen tuông, giận dữ:
+Khi đứng trước Xi-ta: Xưng hô: ta -phu nhân, cách xưng hô trịnh trọng nhưng rất xa cách; Nhấn mạnh mục đích chiến đấu không phải vì Xi-ta mà vì danh dự, phẩm giá của bản thân và cộng đồng “ta làm điều đó vì nhân phẩm của ta…”; Bộc lộ nghi ngờ, ghen tuông về trinh tiết của Xi-ta: “nàng đã lưu lại lâu trong nhà kẻ xa lạ, đôi mắt tội lỗi của hắn hau háu nhìn nàng…”; Lăng nhục Xi-ta, không nhận làm vợ và đuổi nàng đi: “ta không ưng nàng nữa, ta không cần đến nàng nữa,…”
→ Lời nói lạnh lùng, tàn nhẫn
+ Khi Xi-ta lên giàn hỏa thiêu: kiên quyết không nói một lời, ngồi câm lặng “mắt dán xuống đất”; Ra-ma tê dại “nom chàng khủng khiếp như thần chết”.
Xi – ta :
- là người phụ nữ xinh đẹp “khuôn mặt bông sen”
- Người vợ thủy chung, son sắt
- Người phụ nữ giàu lòng tự trọng.
⇒ Xi-ta là một người phụ nữ đức hạnh, bất khuất thủy chung, giàu lòng tự trọng. Xứng đáng là một hình mẫu lý tưởng của người phụ nữ Ấn Độ thời xưa.
– Yếu tố thần kì :
+ Các nhân vật loài vật: Tướng khỉ Ha-nu-man, quỷ vương Ra-va-na…
+ Thần lửa A-nhi
+ Hành động nhảy vào lửa của Xi-ta mang ý nghĩa biểu tượng.
– Giá trị nội dung – nghệ thuật :
+ Nghệ thuật: Xây dựng nhân vật lí tưởng với tâm lí, tính cách đặc trưng, cốt truyện giàu kịch tính, mang đậm chất sử thi hào hùng.
+ Nội dung: Ca ngợi người anh hùng Ra-ma sáng suốt mà gần gũi với đời thường, trọng danh dự. Ngợi ca vẻ đẹp nàng Xi-ta, vẻ đẹp người phụ nữ dịu dàng, đoan trang, thủy chung và giàu lòng tự trọng. Đoạn trích đã
để lại cho người đọc nhiều ấn tượng sâu sắc về nền văn hóa Ấn Độ cổ xưa, về vai trò và vị trí của con người bị ràng buộc bởi nhiều thứ, nhưng lẩn khuất trong đó ta vẫn thấy được những giá trị của tình yêu, tình nghĩa vợ chồng bị bao bọc bởi cái vỏ mâu thuẫn và xung đột khó giải quyết.
- Gặp Ka-ríp và Xi-la
| – Xuất xứ : Sử thi Hy Lạp.
– Không gian : Gắn liền với hình tượng thiên nhiên đại dương mênh mông, kì vĩ, hoang sơ, đầy nguy hiểm và thách thức. |
Không gian sông nước tràn đầy những điều kì bí, pha lẫn sự nguy hiểm đối với con người.
–
| Thời gian quá khứ cổ sơ, kéo dài và trải qua nhiều giai đoạn, nhiều khoảnh khắc cũng như các thử thách của nhân vật người anh hùng.
– Cốt truyện : |
Thời gian :
Cốt truyện li kì, hấp dẫn :
| + Ô-đi-xê cùng những người bạn lên đường vượt biển cả để trở về nhà và chàng được nghe Xi-ếc-xê dự báo trước về những hiểm nguy.
+ Ô-đi-xê lo lắng nên đã nói những điều Xi-ếc-xê căn dặn mình cho mọi người nghe, và cùng bàn trước kế hoạch. Tất cả đều đúng như dự đoán. + Ô-đi-xê nhớ lời Xi-ếc-xê , nhét sáp vào tai mọi người , dặn họ trói mình vào cột buồm để không bị giọng |
Sau cuộc chiến thành Tơ-roa kéo dài 10 năm, Ô-đi-xê và đồng đội trở về quê hương I-tác.
hát đó quyến rũ. Chàng căn dặn :
Cần coi chừng các nàng Xi-ren quyến rũ, coi chừng giọng hát và cánh đồng cỏ đầy hoa của họ ; Lấy dây trói chặt Ô-đi-xê vào cột buồm để buộc chàng phải đứng yên một nơi; Nếu Ô-đi-xê có van xin hay ra lệnh cho các thủy thủ cởi trói ra thì hãy trói chặt thêm nữa. Họ an toàn vượt qua thử thách.
| + Khi đến xứ sở của Ka-ríp và Xi-la, chàng quên lời dặn của Xi-ếc-xê không được cầm vũ khí, thuyền của chàng bị bắt mất sáu người. Dù đã cố gắng trấn an tinh thần của các bạn mình và có sự chuẩn bị kĩ lưỡng, Ô-đi-xê vẫn phải đau lòng nhìn Xi-la ăn thịt họ.
– Nhân vật : |
Nhân vật là những con người có vóc dáng và sức mạnh phi thường :
- Là người yêu quê hương, luôn hướng về quê hương và sẵn sàng vượt qua thử thách để trở về quê hương.
| + Là người thủ lĩnh thân thiện, được yêu mến và tôn trọng : luôn gọi những thủy thủ của mình là ”các bạn ơi”. Chàng không coi họ là những tôi tớ, người hầu của mình mà coi họ như những người bạn, những người đồng đội thực sự của mình. Đây chính là hành động thể hiện sự tôn trọng của một vị lãnh đạo, một thuyền trưởng dành cho thuyền viên của mình.
+ Là người thông minh xuất chúng : luôn biết cách chỉ đạo hướng dẫn thuyền viên của mình «nhét sáp vào tai các bạn đồng hành để họ có thể tập trung chèo thuyền ». + Là người có bản lĩnh kiên định khi dặn các thuyền vãy trói mình lại chặt hơn nữa nếu chàng bị dụ dỗ bởi tiếng hát của các nàng Xi-ren – Khi các thuyền viên bị hoảng sợ trước sự tấn công của Xi-la và Ka-ríp, Ô-đi-xê đã vực dậy tinh thần của họ bằng cách nhắc lại những thử thách, những phút giây khó khăn nhưng bọn họ đã kiên trì vượt qua được trước kia như: trốn thoát khỏi tên khổng lồ ăn thịt người Xi-clốp. – Những người bạn của Ô-đ-xê : gan dạ, dũng cảm nhưng vẫn mang nỗi sợ hãi, lúng túng trước hiểm nguy. |
- Ô-đi-xê là một vị lãnh đạo, chỉ huy và dẫn dắt cả đoàn băng qua biển:
-Yếu tố thần kì :
+ Hình tượng quái vật biển Xi-la và Ka-rip tượng trưng cho những hiện tượng tự nhiên : sóng thần, vòi rồng và đá ngầm trên biển.
+ Ka-rip : (đá ngầm) xông vào các bạn của Ô-đi-xê để giết hại.
+ Xi-la tượng trưng cho những xoáy nước ùng ục, sôi lên như nước trong chảo.
+ Những người anh hùng trải qua cuộc phiêu lưu trên biển đảo đầy hùng tráng.
+ Tiến hát nàng Xi-ren ma mị, chết chóc…
+ Nhân vật thần linh luôn hỗ trợ cho Ô-đi-xê, nữ thần Xi-ếc-xê.
– Giá trị nội dung – nghệ thuật :
+ Nghệ thuật: Xây dựng nhân vật lí tưởng độc đáo, mang phẩm chất người lãnh đạo vừa thông minh, dũng cảm, vừa giàu tình cảm, tình yêu quê hương, cốt truyện giàu kịch tính, mang đậm chất sử thi hào hùng. Lời kể chuyện ở ngôi thứ nhất, mạch lạc, tự nhiên, chân thật và hấp dẫn như đang cuốn vào cuộc phiêu lưu của nhân vậtc chính. Có nhiều yếu tố kì ảo hoang đường tạo ra thế giới đại dương bí ẩn.
+ Nội dung: Ca ngợi người anh hùng Ô-đi-xê trí dũng, mà gần gũi. Đoạn trích giải thích những bí ẩn của đại dương bằng những hình ảnh ẩn dụ; thể hiện quan niệm về hành trình tìm về nguồn cội đầy gian lao, nguy hiểm. hành trình vươn tới hạnh phúc gặp nhiều cám dỗ và đau thương mất mát, con người phải có ý chí, nghị lực vượt qua nó.
- Chiến thắng Mtao Mxây:
- Xuất xứ : Sử thi anh hùng Đăm Săn của người Ê-đê Việt Nam.
– Không gian :
Không gian cộng đồng người Ê-đê.
– Thời gian :
Thời gian quá khứ lịch sử gắn liền với sự hình thành các bộ tộc, cuộc chiến mở mang bờ cõi của những tù trưởng.
– Cốt truyện :
Kể về cuộc chiến giữa Đăm Săn và Mtao-Mxây sau khi Đăm Săn đi săn bắt về phát hiện hai người vợ mình là Hơ- nhị và Hơ-bhị bị Mtao-mxây bắt cóc về làm vợ.
+Đăm Săn chủ động đến khiêu chiến tại nhà Mtao-mxây.
+ Đăm Săn đã chiến đấu với Mtao-mxây qua 4 hiệp đấu, có sự giúp sức của Hơ-nhị và Ông Trời.
+ Đăm Săn chém đầu Mtao-mxây, cứu được hai người vợ và thu phục được dân làng của Mtao-mxây.
| + Đăm Săn trở về tổ chức lễ ăn mừng linh đình, có sự góp mặt của các tù trưởng bạn bè, dân làng của Đăm Săn và Mtao-mxây.
– Nhân vật : |
Nhân vật có sự phân tuyến rõ ràng gồm chính diện và phản diện :
+ Đăm Săn là tù trưởng giàu mạnh, khỏe mạnh phi thường và có phẩm chất cao đẹp : trọng danh dự, gắn bó với hạnh phúc gia đình, được nhân dân yêu mến…
| + Mtao-mxây là tù trưởng tham lam, hèn nhát : cướp vợ người khác và sợ hãi trước sự kiên cường của Đăm Săn.
-Yếu tố thần kì : |
+ Hình dáng của nhân vật Đăm Săn được cường điệu hóa thành con người khổng lồ có thân hình cao lớn ; sức mạnh phi thường « Một lần xốc tới vượt một đồi lồ ô,… Chạy vun vút qua phía đông, vun vút qua phía tây… »
+ Chi tiết miếng trầu của Hơ-nhị làm tăng lên sức mạnh của Đăm Săn và Đăm Săn vừa chạy vừa ngủ mộng thấy Ông Trời mách nước thể hiện sự ưu ái của dân gian đối với Đăm Săn.
